Địa chỉ văn phòng đăng ký đất đai Quận 1.

Địa chỉ văn phòng đăng ký đất đai Quận 1.Quyền thừa kế là gì ? Mối quan hệ giữa quyền thừa kế và quyền sở hữu ? Sau đây Luật VN sẽ chia sẻ với quý khách để quý khách lắm rõ về thủ tục.

Mục lục

VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI QUẬN 1

Tên doanh nghiệp: CHI NHÁNH VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI QUẬN 1
Mã số thuế: 0313364566-001
Tình trạng hoạt động: Đang hoạt động (đã được cấp GCN ĐKT)
Nơi đăng ký quản lý: Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: 69, 71 Hồ Hảo Hớn, Phường Cô Giang, Quận 1, TP Hồ Chí Minh
Điện thoại: 39209348
Fax: 39209347
Đại diện pháp luật: Trần Thị Kim Ngân
Địa chỉ người ĐDPL:
Giám đốc: Trần Thị Kim Ngân
Ngày cấp giấy phép: 07/09/2015
Ngày bắt đầu hoạt động: 21/07/2015
Ngày nhận TK: 04/09/2015
Năm tài chính: 2000
Cấp Chương Loại Khoản: 426-373
Ngành nghề kinh doanh: M7490 Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ khác chưa được phân vào đâu (Ngành chính).

Mối quan hệ giữa quyền thừa kế và quyền sở hữu ?

Thừa kế được hiểu là quyền để lại tài sản (tài sản thừa kế) của một người cho người khác thông qua việc lập di chúc hoặc phân chia tài sản thừa kế theo quy định của pháp luật. Bài viết sẽ tập trung phân tích và làm rõ các thể chế pháp lý quan trọng liên quan đến kế thừa và thừa kế:

Lịch sử hình thành mối quan hệ thừa kế của nhân loại?

Kế thừa với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế có hạt giống và xuất hiện ngay từ khi bắt đầu xã hội loài người. Trong giai đoạn này, việc thừa kế để chuyển tài sản của người chết cho người sống được thực hiện dựa trên quan hệ huyết thống và được xác định bởi phong tục độc đáo của mỗi bộ lạc và gia tộc. Nghiên cứu về thừa kế, Phang Engel đã viết:

Mối quan hệ thừa kế xuất hiện đồng thời với mối quan hệ sở hữu và phát triển với sự phát triển của xã hội loài người. Bởi vì, mối quan hệ sở hữu là mối quan hệ giữa mọi người về việc sở hữu của cải vật chất trong xã hội, trong quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối của cải vật chất. Sở hữu vật chất được thể hiện giữa người này và người khác, giữa một nhóm người và một nhóm người khác. Sự sở hữu đó là tiền đề đầu tiên làm phát sinh mối quan hệ thừa kế.
Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, mặc dù đó là một sản phẩm đơn giản với lao động thô sơ, chủ yếu là thu thập và săn bắn, sản xuất đó cũng ở một hình thức kinh tế xã hội nhất định. Do đó, mối quan hệ sở hữu cũng là một yếu tố khách quan xuất hiện ngay từ khi bắt đầu xã hội loài người và cùng với sự kế thừa, họ đã phát triển với xã hội loài người.

Khái niệm thừa kế?

Theo nghĩa rộng, quyền thừa kế là luật thừa kế, là một tập hợp các chuẩn mực pháp lý điều chỉnh thứ tự trong đó tài sản của người chết được chuyển giao cho người sống. Thừa kế là một tổ chức pháp luật dân sự, là tập hợp các chuẩn mực pháp lý điều chỉnh việc chuyển giao tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định, đồng thời quy định phạm vi quyền, nghĩa vụ và phương pháp bảo vệ quyền và nghĩa vụ của người thừa kế.
Thừa kế theo nghĩa chủ quan là quyền của người để lại di sản và quyền của người nhận di sản. Quyền chủ quan này phải phù hợp với quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về kế thừa nói riêng.
Kế thừa như một mối quan hệ pháp lý dân sự, trong đó các đối tượng có một số quyền và nghĩa vụ nhất định. Trong mối quan hệ này, người có tài sản, trước khi chết, có quyền xử lý tài sản của mình cho người khác. Người có quyền nhận bất động sản có thể hoặc không thể nhận được bất động sản (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác). Đối tượng thừa kế là tài sản, quyền tài sản do người chết để lại (trong một số trường hợp, người để lại tài sản chỉ được để lại lợi nhuận và lợi nhuận phát sinh từ tài sản). Tuy nhiên, một số quyền tài sản gắn liền với danh tính của người chết không thể được chuyển giao cho người thừa kế (tiền cấp dưỡng, v.v.) vì luật pháp quy định rằng chỉ có người đó mới có quyền hưởng chúng.

Mối quan hệ giữa thừa kế và quyền sở hữu.

Khi xã hội bị chia thành các giai cấp và nhà nước xuất hiện, việc sở hữu của cải vật chất trong xã hội được điều chỉnh bởi pháp luật có lợi cho giai cấp thống trị của xã hội. Do đó, quyền sở hữu theo nghĩa khách quan là tập hợp các chuẩn mực pháp lý do nhà nước quy định nhằm điều chỉnh các mối quan hệ sở hữu đối với lợi ích vật chất trong xã hội. Những chuẩn mực pháp lý đó xác nhận, điều chỉnh và bảo vệ quyền sở hữu của chủ sở hữu trong việc sở hữu, sử dụng và xử lý tài sản của họ. Thừa kế là tập hợp các quy định pháp luật do nhà nước ban hành quy định điều kiện, thủ tục chuyển nhượng tài sản của người chết cho người còn sống.

Quyền sở hữu và quyền thừa kế đều là các loại hợp pháp, cùng tồn tại dưới cùng một hình thức kinh tế – xã hội. Có mối quan hệ chặt chẽ và chặt chẽ giữa họ, từ thực tế là pháp luật quy định rằng công dân có quyền sở hữu tài sản và cũng dựa trên đó pháp luật quy định cho họ quyền hạn trong mối quan hệ thừa kế.

Trong xã hội phong kiến hoặc trong xã hội tư bản chủ nghĩa – xã hội dựa trên quyền sở hữu tư nhân của các phương tiện sản xuất, việc thừa kế các phương tiện sản xuất của người quá cố là dư thừa để duy trì việc bóc lột lao động. thúc đẩy người khác và củng cố địa vị xã hội của những người thừa kế. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, một chế độ dựa trên tư nhân hóa công khai các phương tiện sản xuất chính như đất đai, rừng, núi, sông, hồ…, nhà nước là đại diện của nhân dân nắm giữ các phương tiện sản xuất phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước và bảo vệ an ninh quốc gia. Thừa kế là di sản thừa kế các quyền và lợi ích hợp pháp mà nhà nước cho phép chuyển giao. Đối tượng thừa kế là phương tiện sản xuất, phương tiện tiêu thụ như nhà xưởng, cổ phần, máy móc phục vụ sản xuất công nghiệp, nông nghiệp…
Công dân có quyền thừa kế tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người khác, Nhà nước không giới hạn quyền thừa kế và quyền nhận thừa kế của công dân (trừ trường hợp vi phạm Điều 621 Bộ luật Dân sự). năm 2015). Mặt khác, Nhà nước khuyến khích công dân bằng sức lao động của mình tạo ra nhiều của cải cho xã hội, làm giàu cho gia đình, làm cho đất nước văn minh và thịnh vượng.

Phân tích bản chất của thừa kế.

Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được pháp luật của các quốc gia công nhận. Tuy nhiên, trong mỗi hệ thống xã hội khác nhau, quy định cũng khác nhau, tùy thuộc vào bản chất của chế độ sở hữu trong xã hội đó. Trong một xã hội có nền tảng kinh tế dựa trên quyền sở hữu tư nhân của các phương tiện sản xuất, thừa kế bảo vệ lợi ích của giai cấp khai thác trong xã hội đó.
Thừa kế có liên quan chặt chẽ đến quyền sở hữu, hình thức sở hữu quyết định sự thừa kế trong xã hội, vì vậy di sản có bản chất giai cấp sâu sắc.
Thừa kế là sự kế thừa kết hợp của những người còn sống đối với các quyền và nghĩa vụ của người quá cố. Việc thừa kế tất cả hoặc một phần quyền và nghĩa vụ do người chết để lại phụ thuộc vào các quy định của pháp luật và ý chí của người để lại và người thụ hưởng bất động sản.

Trong chế độ phong kiến và chủ nghĩa tư bản, giai cấp khai thác sở hữu các phương tiện sản xuất chính của xã hội; Di sản của họ đối với con cháu của họ không chỉ là truyền tải quyền lực kinh tế, mà còn là truyền tải quyền lực chính trị để duy trì sự áp bức và bóc lột của các tầng lớp đó đối với nhân dân. Lao động. Trong các xã hội với các phương thức sở hữu khác nhau, thừa kế là một trong những cách để củng cố và phát triển quyền sở hữu đó.

Kế thừa và tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác là một quy luật khách quan, nhưng làm thế nào để các mối quan hệ thừa kế trong mỗi chế độ xã hội được giải quyết được xác định một cách chủ quan bởi người dân. Quyền sở hữu cá nhân là cơ sở khách quan của việc thừa kế. Do đó, quyền thừa kế trong điều kiện hiện nay của nước ta được thể hiện như một phương tiện để củng cố tài sản của công dân, tăng cường quan hệ hôn nhân và gia đình; bảo vệ quyền lợi của trẻ vị thành niên hoặc người lớn không có khả năng làm việc.
Nhận thừa kế quyền sử dụng đất theo di chúc
Nhận thừa kế quyền sử dụng đất theo di chúc

 Chủ thể của quyền thừa kế.

Về đối tượng thừa kế quyền trong trường hợp này bao gồm: Quyền của người để lại di sản và quyền của người nhận di sản.

Về quyền thừa kế của người để lại bất động sản:

Theo Bộ luật Dân sự 2015, mỗi cá nhân đều có quyền định đoạt tài sản của mình dưới hình thức di chúc trước khi chết. Tất cả các cá nhân đều bình đẳng về quyền thừa kế, bất kể nam hay nữ, tuổi tác, dân tộc, tôn giáo, địa vị chính trị xã hội, v.v., có quyền để lại tài sản của họ cho người khác và quyền thừa kế. tài sản theo ý muốn hoặc theo luật.
– Trường hợp có di chúc do người chết để lại thì việc phân chia di sản phải thực hiện theo ý muốn của người kiểm tra như đã nêu rõ trong di chúc.
– Trường hợp người chết không có di chúc thì việc phân chia di sản sẽ thực hiện theo quy định của pháp luật về thừa kế trong Bộ luật Dân sự 2015.

Quyền thừa kế của người nhận bất động sản:

Mỗi cá nhân có quyền nhận bất động sản trong trường hợp đủ điều kiện nhận bất động sản theo luật hoặc theo ý muốn. Người thừa kế là cá nhân phải là người vẫn còn sống tại thời điểm mở di sản thừa kế hoặc được sinh ra và vẫn còn sống sau thời gian mở di sản thừa kế nhưng mang thai trước khi người rời khỏi di sản chết. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc không phải là cá nhân thì phải tồn tại tại thời điểm mở thừa kế.
– Trường hợp người nhận di sản theo di chúc, căn cứ vào quyền thừa kế của mình thì được hưởng phần di sản do người chết để lại theo quy định của di chúc. Một người thừa kế theo di chúc có thể là bất cứ ai theo ý muốn của người kiểm tra.

Lưu ý: Người thừa kế theo di chúc không được làm chứng cho di chúc hoặc công chứng hoặc xác nhận di chúc.

– Trường hợp người nhận di sản theo quy định của pháp luật, căn cứ vào dòng thừa kế để xác định phần di sản mà họ sẽ nhận. Những người thừa kế hợp pháp được quy định theo thứ tự sau:
+ Dòng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
+ Dòng thừa kế thứ hai bao gồm: ông, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, em gái, anh ruột của người đã chết; cháu ruột của người chết và người quá cố là ông, bà, bà ngoại, bà ngoại;
+ Dòng thừa kế thứ ba bao gồm: ông cố nội, ngoại của người quá cố; chú ruột, chú ruột, chú ruột, dì, dì ruột của người quá cố; cháu ruột của người chết và người chết là chú ruột, chú ruột, chú ruột, cô ruột, dì ruột, dì ruột; chắt của người quá cố, nhưng người quá cố là một ông cố nội.
Quý khách có vướng mắc gì liên quan đến quyền thừa kế hãy liên hệ với Luật VN hotline/zalo: 0763387788 để được tư vấn hỗ trợ.

Contact Me on Zalo

0763 387 788

Zalo Chat

Gửi Email

Bảng giá