Tổng quan kiến thức về nguyên lý kế toán

Tổng quan kiến thức về nguyên lý kế toán sẽ được tìm hiểu trong bài viết sau. Nguyên lý kế toán là giới thiệu về nghề kế toán. Đây là một môn học cung cấp cho sinh viên kiến thức kế toán cơ bản, là nền tảng của chương trình đào tạo kinh tế nói chung và là một môn học cơ bản cho các chuyên ngành kế toán nói riêng.

Hôm nay, Luật VN sẽ giới thiệu cho bạn một bài viết tóm tắt kiến thức về Nguyên tắc Kế toán để bạn có thể hiểu những điều cơ bản nhất của chủ đề quan trọng này.

1. Tổng quan chung về kế toán – nguyên lý kế toán

Tổng quan kiến thức về nguyên lý kế toán
Tổng quan kiến thức về nguyên lý kế toán

Nguyên lý kế toán liên quan đến các khái niệm và nguyên tắc kế toán cơ bản, đồng thời giới thiệu chu trình kế toán và nghiên cứu chu trình kế toán trong một loại hình doanh nghiệp – doanh nghiệp thương mại.

a. Khái niệm về nguyên lý kế toán

+ Theo chuẩn mực kế toán: Kế toán là công việc ghi và tính toán các số dưới dạng giá trị, bằng hiện vật và thời gian lao động, chủ yếu dưới dạng giá trị để phản ánh và kiểm tra tình hình vận chuyển. hoạt động của các loại tài sản khác nhau, quá trình và kết quả của hoạt động sản xuất và kinh doanh, sử dụng vốn và tài trợ của Nhà nước, cũng như từng tổ chức và doanh nghiệp.

+ Trong ngôn ngữ hàng ngày: Kế toán là nghệ thuật tiếp nhận, xử lý và cung cấp thông tin về tất cả các tài sản và sự chuyển động của tài sản (hoặc tất cả thông tin về tài sản và hoạt động kinh tế). tài chính) trong doanh nghiệp để cung cấp thông tin hữu ích để đưa ra các quyết định kinh tế xã hội và đánh giá hiệu quả của các hoạt động trong doanh nghiệp.

=> Kế toán là quá trình tiếp nhận, xử lý, kiểm tra và cung cấp thông tin kinh tế và tài chính dưới dạng giá trị, bằng hiện vật và thời gian lao động của doanh nghiệp.

b. Đặc điểm chung

+ Cấu trúc chung của tài khoản được xây dựng trên cơ sở số dư của kế toán và tính chất động của đối tượng kế toán.

+ Bản chất cân bằng của kế toán chỉ ra rằng tại bất kỳ thời điểm nào, tổng tài sản luôn bằng tổng vốn chủ sở hữu (nghĩa là tổng tài sản luôn bằng tổng vốn).

c. Đối tượng kế toán

Đối tượng kế toán là đối tượng mà kế toán cần phản ánh và giám đốc: Đó là sự hình thành và sự biến động của tài sản trong quá trình hoạt động của thực thể.

– Tài sản và sự biến động của tài sản có thể được thể hiện đầy đủ bằng tiền. Do đó, để đơn giản và dễ hiểu, có thể nói rằng: Mọi thứ dưới sự quản lý và sử dụng của thực thể có thể được thể hiện dưới dạng tiền là một đối tượng mà kế toán cần phải phản ánh và sử dụng. quản lý

Đối tượng kế toán

– Để làm rõ và cụ thể hóa đối tượng kế toán, chúng ta có thể thực hiện các hoạt động cụ thể của một doanh nghiệp sản xuất để minh họa. Trước hết, để tiến hành các hoạt động, doanh nghiệp cần phải có và có các loại tài sản hữu hình và vô hình sau đây :

Tòa nhà, máy móc, thiết bị, kho, phương tiện giao thông
Các loại nguyên liệu (nguyên liệu chính, vật liệu phụ trợ, nhiên liệu …)
Dụng cụ, dụng cụ nhỏ
Hàng hóa, thành phẩm
Tiền mặt
Tiền gửi ngân hàng
Chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu)
Các khoản nợ của các đơn vị và cá nhân cho doanh nghiệp: Các khoản phải thu từ khách hàng, các khoản tạm ứng, các khoản phải thu khác…
Các mặt hàng thuộc về lợi thế cửa hàng, bằng sáng chế, bằng sáng chế, nhãn hiệu thương mại…

Tài sản

– Các tài sản trên thường được di chuyển và thay đổi trong quá trình sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp. Việc cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời về số lượng và chuyển động có sẵn của từng loại tài sản nêu trên là nội dung cơ bản của công việc kế toán. Do đó, kết luận được rút ra: Mỗi loại tài sản và chuyển động của nó trong quá trình sản xuất và kinh doanh là một đối tượng cụ thể mà kế toán phải phản ánh và giám đốc –

– Các loại tài sản nêu trên được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau và được phân loại thành các loại chính là vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.

d. Chức năng và nhiệm vụ của kế toán viên

– Quan sát một cách có hệ thống, nhận và ghi lại các hoạt động kinh doanh hàng ngày, phát sinh các giao dịch kinh tế và các sự kiện kinh tế khác như: giám sát, lập biên lai và chi tiêu, tiền gửi với ngân hàng. , tính chi phí sản xuất, kiểm tra và thiết lập kho mua hàng, bán hàng hóa, tính lương nhân viên…

– Phân loại các giao dịch và sự kiện kinh tế thành các nhóm và danh mục khác nhau, ghi lại chúng trong sổ kế toán để theo dõi một cách có hệ thống các chuyển động của tài sản và vốn lưu động trong doanh nghiệp.

– Tổng hợp thông tin được phân loại vào báo cáo kế toán (Báo cáo tài chính và báo cáo quản lý), phân tích dữ liệu tài chính từ dữ liệu kế toán để tư vấn cho người ra quyết định (Giám đốc, doanh nghiệp, nhà đầu tư…)

Công việc

– Thực hiện các công việc liên quan đến quyền và nghĩa vụ thanh toán thuế của doanh nghiệp: khai thuế VAT, thuế TNDN, thuế TNCN và các loại thuế khác hàng tháng, hàng quý và hàng năm.

Tóm lại, Kế toán sẽ làm các công việc sau :

Nhận: Ghi lại các hoạt động kinh tế trong chứng từ kế toán.
Xử lý: Hệ thống hóa thông tin từ chứng từ kế toán vào sổ kế toán.
Cung cấp: Tổng hợp dữ liệu để lập báo cáo kế toán.

e. Yêu cầu kế toán

Phản ánh đầy đủ các hoạt động kinh tế và tài chính phát sinh trong chứng từ kế toán, sổ kế toán và báo cáo tài chính.

– Phản ánh kịp thời và chính xác thông tin kế toán và dữ liệu.

Phản ánh rõ ràng, dễ hiểu và chính xác thông tin kế toán và dữ liệu.

– Để phản ánh trung thực tình trạng hiện tại, bản chất của các sự kiện, nội dung và giá trị của hoạt động kinh tế và tài chính.

– Thông tin và dữ liệu kế toán phải được phản ánh liên tục từ thời điểm phát sinh đến khi kết thúc hoạt động kinh tế và tài chính, từ khi thành lập đến khi chấm dứt hoạt động của đơn vị kế toán; dữ liệu kế toán phản ánh giai đoạn này phải tuân theo dữ liệu kế toán của giai đoạn trước.

– Phân loại và sắp xếp thông tin và dữ liệu kế toán theo thứ tự, có hệ thống và có thể so sánh được.

2. Một số nguyên lý kế toán được chấp nhận chung

Chi phí:

Giá trị của một tài sản theo giá gốc, bao gồm chi phí mua, xử lý, vận chuyển, lắp ráp, xử lý và các chi phí liên quan trực tiếp khác để đưa tài sản đến trạng thái sẵn sàng. sử dụng. – Tính nhất quán: Các quy định và phương pháp kế toán được lựa chọn phải được áp dụng nhất quán trong kỳ kế toán hàng năm; trong trường hợp có sự thay đổi trong các quy định và phương pháp kế toán được chọn, đơn vị kế toán phải giải thích trong báo cáo tài chính.

Cơ sở dồn tích:

Cơ sở dồn tích: Tất cả các giao dịch kinh tế và tài chính của một doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí phải được ghi vào sổ kế toán tại thời điểm phát sinh. dựa trên thời gian thực tế nhận hoặc thanh toán thực tế tiền mặt hoặc các khoản tương đương tiền, để phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

Mối quan tâm

Mối quan tâm đang diễn ra: Báo cáo tài chính nên được lập dựa trên giả định rằng doanh nghiệp đang lo ngại và sẽ tiếp tục kinh doanh như bình thường trong tương lai gần, nghĩa là, không có ý định buộc phải ngừng hoạt động hoặc giảm đáng kể hoạt động. Khi một hoạt động không liên tục được giả định, báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở khác và cơ sở được sử dụng để lập báo cáo tài chính phải được giải thích.

Phù hợp

Phù hợp: Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải nhất quán. Khi doanh thu được ghi nhận, một chi phí tương ứng liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó phải được ghi nhận, doanh thu của giai đoạn đó được ghi nhận trong giai đoạn đó.

Thận trọng: Thận trọng là sự cân nhắc, phán đoán và phán đoán cần thiết để lập dự toán kế toán trong các điều kiện không chắc chắn. Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi 

Quy định

Quy định phải được thực hiện nhưng không quá lớn;
Không đánh giá quá cao giá trị tài sản và thu nhập;
Đừng đánh giá thấp giá trị của các khoản nợ và chi phí;
Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng vững chắc

Lợi ích

Lợi ích kinh tế có khả năng thu được, trong khi chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng chi phí.
Tính trọng yếu: Thông tin được coi là tài liệu nếu sự thiếu hoặc không chính xác của nó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người dùng. báo cáo tài chính. Tính trọng yếu phụ thuộc vào mức độ và tính chất của thông tin hoặc sai sót được đánh giá trong các trường hợp cụ thể. Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét cả về số lượng và chất lượng

3. Đơn vị tính toán được sử dụng trong kế toán

– Tiền tệ là Việt Nam Đồng

– Trong trường hợp giao dịch kinh tế hoặc tài chính phát sinh bằng ngoại tệ, nó phải được ghi bằng tiền gốc và đồng Việt Nam theo tỷ giá hối đoái thực tế hoặc được chuyển đổi theo tỷ giá hối đoái. Đối với một loại ngoại tệ không có tỷ giá hối đoái với đồng Việt Nam, nó phải được chuyển đổi thông qua ngoại tệ với tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam.

– Các đơn vị kế toán chủ yếu nhận và chi tiêu bằng ngoại tệ có thể chọn ngoại tệ theo quy định của Bộ Tài chính làm tiền kế toán, nhưng khi lập báo cáo tài chính để sử dụng tại Việt Nam, họ phải chuyển đổi chúng thành đồng Việt Nam. .

– Đơn vị loại và đơn vị thời gian lao động là đơn vị đo lường chính thức của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Trong trường hợp các đơn vị đo lường khác được sử dụng, chúng phải được chuyển đổi thành đơn vị đo lường chính thức của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Để được tư vấn thêm tổng quan kiến thức về nguyên lý kế toán, vui lòng liên hệ qua số hotline/zalo: 076 338 7788.

Contact Me on Zalo

0763 387 788